Main menu

Tin thị trường

Technip FMC trúng thầu EPC dự án Nam Côn Sơn giai đoạn 2

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
<

Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV Gas) đã chọn Technip FMC chi nhánh Malaysia là  nhà thầu EPC “Giai đoạn 2 của Dự án Đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn 2", phần đường ống biển. Các chi tiết của nội dung của hợp đồng đang được hai bên tiến hành đàm phán để đi đến kí kết. 

Các điểm chính của hợp đồng dự kiến:

Trị giá hợp đồng: 190 triệu đô la, chưa bao gồm các chi phí phát sinh về điều kiện thi công.

Nhà thầu phụ: PTSC POS, Thiên Nam. Bọc đường ống: Công ty CP Bọc ống dầu khí Việt Nam PVB (đang thương thảo).

Nội dung công việc:

- Nhà thầu thực hiện việc khảo sát phục vụ thiết kế chi tiết; thiết kế chi tiết; mua sắm (ngoại trừ vật tư, thiết bị được cấp bởi Chủ đầu tư), tiếp nhận, lưu kho và vận chuyển vật tư, thiết bị đến công trường; chế tạo; lắp đặt; chạy thử; nghiệm thu và bàn giao các hạng mục dưới đây:
• Khoảng 117.9 km đường ống 26 inch từ KP 207.5 đến điểm tiếp bờ tại Long Hải;
• Khoảng 0.23 km đường ống 26 inch từ điểm tiếp bờ tại Long Hải đến trạm tiếp bờ Long Hải;
• 01 cụm PLEM kết nối với đường ống dẫn khí NCS2 giai đoạn 1 tại KP 207.5;
• 01 Barred Tee kết nối tại KP 227.5;
• 01 cụm PLEM kết nối với đường ống STT tại KP 227.5.
- Các vật tư thiết bị được cung cấp bới Chủ đầu tư:
• Ống 26 inch đã được bọc chống ăn mòn và bê tông gia trọng sẽ được giao tại cảng Tân Cảng Cái Mép thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
• Ống 26 inch được bàn giao để thử quy trình hàn tại nhà máy của PV PIPE (ống trần) hoặc nhà máy của PV Coating (ống bọc chống ăn mòn và bê tông gia trọng);
• Bracelet Anodes tại các đoạn ống kết nối và trong cụm PLEM.
Đường ống biển cho giai đoạn 2 của Dự án Nam Côn Sơn 2 sẽ được hoàn thành và sẵn sàng gas-in vào 30/09/2020.

Trong gói thầu này Technip FMC đã vượt qua các đối thủ lớn như McDermott (Mỹ), Hilong Marine Engineering (Hồng Kông), Larsen, Toubro (Ấn Độ) và Sapura (Malaysia).

Phần đường ống cập bờ.

Ngày 8/8/2019, tại thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Công ty khí Việt Nam sẽ ký hợp đồng EPC với Liên doanh Việt Nga (VIETSOVPETRO - VSP), Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) và Công ty CP Tư vấn Xây dựng Tổng hợp (NAGECCO) hợp đồng EPC phần đường ống bờ và các trạm thuộc dự án đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn 2 (điều chỉnh).

Hợp đồng trị giá 1.363 tỷ đồng, VSP đứng đầu liên danh, NAGECCO phụ trách thiết kế và LILAMA phụ trách thi công. Nội dung công việc bao gồm:

- Hạng mục 1: khoảng 8 km đường ống 26” từ Trạm tiếp bờ Long Hải đến nhà máy GPP2; - Hạng mục 2: khoảng 29,5 km đường ống khí thương phẩm 30” từ nhà máy GPP2 đến Trung tâm phân phối khí (GDC) Phú Mỹ; - Hạng mục 3: khoảng 25 km đường ống vận chuyển LPG 6” từ nhà máy GPP2 đến Kho cảng Thị Vải; - Hạng mục 4: khoảng 25 km đường ống vận chuyển Condensate 6” từ nhà máy GPP2 đến Kho cảng Thị Vải; - Hạng mục 5: đường ống công nghệ và lắp đặt thiết bị công nghệ trong trạm GDC Phú Mỹ. Ngoài ra, nhà thầu được yêu cầu phải đề xuất bổ sung (Additional Option) kế hoạch thực hiện, lập thiết kế bản vẽ thi công, mua sắm thiết bị vật tư, tiếp nhận, bảo quản và vận chuyển thiết bị vật tư đến công trường, chế tạo, thi công lắp đặt, chạy thử, nghiệm thu và bàn giao cho hạng mục 6: Đường ống kết nối từ nhà máy GPP2 đến nhà máy Dinh Cố và từ nhà máy Dinh Cố đến đầu chờ tại KP 0.9 trên đường ống 30”.

 

Ericsson trúng thầu "Mở rộng mạng vô tuyến khu vực TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nam Bộ và Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Khánh Hòa mạng Vinaphone năm 2019

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực

<

Tổng công ty hạ tầng mạng (VNPT Net) vừa có công văn số 1397/QĐ-VNPTNet-KHĐT-PTM ngày 25/7/2019 do Phó Tổng giám đốc Nguyễn Như Thông phê duyệt Liên danh  Công ty TNHH Ericsson Việt Nam, CÔNG TY CỔ PHẦN VIỄN THÔNG VTC, Ericsson AB trúng gói thầu "Cung cấp thiết bị hệ thống vô tuyến" cho dự án "Mở rộng mạng vô tuyến khu vực TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nam Bộ và Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Khánh Hòa mạng Vinaphone năm 2019". Hình thức đấu thầu là chỉ định thầu quốc tế. Giá trúng thầu gói thầu (đẫ bao gồm thuế nhà thầu nước ngoài, chưa bao gồm thuế VAT) là 38.234.463 USD (Tỷ giá USD /VND : 24.000) và 191.565.764.500 VND. Thời gian thực hiện hợp đồng 12 tháng.

Dự án sẽ được giao cho Ban quản lý hạ tầng II - VNPT Net thực hiện.

 
 
 

Saipem trúng thầu dự án Cá Voi Xanh - giai đoạn 1

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
<

Saipem đã trúng thầu là nhà thầu thiết kế tổng thể (FEED), cả 2 phạm vi thiết kế dự án Cá Voi Xanh. Đây là giai đoạn 1 của chuỗi dự án Cá Voi Xanh và phạm vi công việc của 2 gói thầu FEED sẽ như sau:

1/ Gói FEED cho khâu thượng nguồn:
Giàn trung tâm CPP, bao gồm khối thượng tầng (Topside) khoảng 14.000 tấn và chân đế (Jacket) khoảng 20.000 tấn. Trên khối thượng tầng có sân bay, đuốc, khu nhà ở, thiết bị nén & tách thô khí và condensate. Có hệ thống ống đứng đấu nối thiết bị trên giàn với công trình ngầm (thiết bị đầu giếng, ống ngầm, hệ thống thu gom khí), đến đầu chờ (tạm gọi là KP0) của 1 đường ống ngầm có đường kính 36'' đưa khí và condensate về bờ (có thể có thêm 1 đường ống 6'' song song dẫn condensate). 

2/ Gói FEED cho khâu trung và hạ nguồn. 
Bao gồm gồm 90 km đường ống có đường kính 36'' (có thể có thêm đường ống 6'') ngoài khơi chạy từ KP0 về nhà máy tách & xử lý khí (GTP) ở huyện Núi Thành, Quảng Nam; đặt sát cầu cảng. Phạm vi trên bờ gồm thiết kế tổng thể GTP và các đoạn ống ngầm: đoạn 1 khoảng 2-4 km, âm đất từ GTP đến 2 nhà máy điện có tổng công suất 1.500MW ở Núi Thành; đoạn 2 khoảng 12 km, âm đất từ GTP đến 2 nhà máy điện có công suất 1,500MW ở khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi. 

Do Saipem trúng thầu cả 2 gói FEED nên sẽ chỉ ký 1 hợp đồng bao gồm 2 phạm vi công việc, cả ngoài khơi và trên bờ. ExxonMobil sẽ phát hành thư xác nhận trúng thầu LOI) vào tháng 1/2019 và chính thức trao hợp đồng FEED cho Saipem trong quý 1/2019.

TIẾN ĐỘ
FEED: 2/2019 - 12/2019. 
FDP: 3/2020 
Đấu thầu quốc tế 2 gói EPCIC: 4/2020. 
Ký kết 2 hợp đồng EPCIC: 9/2020
Thiết kế chi tiết: ngay sau khi ký EPCIC
Mua sắm (tổng thầu): 2020
Thi công: quý 3/2021-quý 3/2023 (2)
Đấu nối, chảy thử: quý 3/2023
Bàn giao, vận hành thương mại: quý 4/2023

Đây được xem là một bất ngờ nho nhỏ khi Saipem đã vượt qua khách hàng truyền thống của ExxonMobil là Wood Group Kenny đối với phạm vi ngoài khơi. Đặc biệt vượt qua cả Technip, công ty có kinh nghiệm tại thị trường Việt Nam và có thế mạnh cả ngoài khơi và trên bờ. Điều này, chỉ có thể giải thích là khi năng lực tương đồng, Saipem đã được chọn do giá cạnh tranh hơn các anh tài còn lại. Giá trị hợp đồng 2 phạm vi công việc khoảng 36 triệu USD, trọn gói (có tăng nhẹ nếu có vài thay đổi nhưng rất nhỏ về phạm vi công việc).

Sau khi ký hợp đồng Saipem sẽ triển khai song song ngay các phạm vi công việc. Việc trao hợp đồng FEED chính là cam kết của ExxonMobil đối với tiến độ cũng như đầu tư vào tổ hợp dự án Cá Voi Xanh. 

Tiến độ mỏ Cá Voi Xanh 30/7/2019

Giàn khai thác mỏ khí Cá Voi Xanh ngoài khơi miền Trung, Việt Nam sẽ có chiều cao 300 mét, xấp xỉ tháp Eiffel, Pháp (324 mét) và cao hơn toà nhà Lotte Center ở Hà Nội nơi đặt trụ sở của ExxonMobil Việt Nam 33 mét.

.

Phía hạ nguồn nơi các hộ tiêu dùng, cụ thể là 4 nhà máy điện (có 2 x 750MW của PVN), EVN và PVN đang tiến hành những vòng đàm phán thương mại để ký kết hợp đồng mua bán điện & giá bán điện. Mục tiêu là để ngay sau khi được Bộ công thương phê duyệt Nghiên cứu khả thi (FS) các nhà máy điện, 2 tập đoàn sẽ ký hợp đồng này, dự kiến vào quý 1/2020.

Phía thượng nguồn, gần như song song, sau khi hoàn thành thiết kế FEED, nhà điều hành ExxonMobil sẽ trình Chính phủ phê duyệt Kế hoạch phát triển mỏ (FDP), trong quý 1/2020. Sau đó, trong năm 2020, sẽ là phê duyệt đầu tư và tổ chức đấu thầu các gói EPC (trên bờ) và EPCIC (ngoài khơi) để thi công trong năm 2021.

Do thiết kế FEED và các hoạt động có trễ so với lịch dự kiến, tiến độ hoàn thành các phạm vi công việc EPC/EPCIC sẽ có trượt, từ 3 đến 6 tháng. Có nghĩa là, thay vì cuối năm 2023, dự án sẽ đón dòng khí đầu tiên và đi vào vận hành thương mại trong quý 1/2024

.

Thị trường khí công nghiệp phát triển ổn định

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
<

Thị trường khí công nghiệp tại Việt Nam phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 6-7%, quy mô thị trường năm 2018 vào khoảng từ 2500-3400 tỷ đồng. 

Nhiều nhà sản xuất từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Malyasia và Singapore đang đầu tư dây chuyền sản xuất vào Việt Nam cũng như các tập đoàn nhà nước sản xuất thép, dầu khí, phân hoá học thúc đẩy nhu cầu sử dụng khí công nghiệp. Thêm vào đó là một số lĩnh vực mới như linh kiện điện tử, thiết bị điện gia dụng, dược phẩm, thức ăn. Chụp cộng hưởng từ tại các bệnh viện cũng sử dụng khí như ni tơ, argon, các bon dioxit và helium. Sản xuất còn tập trung sâu vào các nhà máy quy mô trung bình cũng yêu cầu lượng lớn khí, vật liệu hàn ....

Khi được phỏng vấn về khó khăn trong kinh doanh khí công nghiệp tại Việt Nam, các doanh nghiệp đều trả lời:

- Sự giải thích về pháp luật và quy định an toàn khí tuỳ thuộc nhân viên chính phủ và thời điểm.

- Bình chứa khí áp suất cao không được đánh dầu bằng màu theo loại khí.

- Không có phương pháp về bảo trì.

Các khó khăn tương tự xuất hiện với việc cấp phép. Các xe chở khí công nghiệp áp suất cao không được đi qua các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh. Việc tắc nghẽn giao thông thương xuyên cũng cản trở phát triển khí công nghiệp.

Các công ty cung cấp khí công nghiệp lớn nhất gồm: Vietnam Japan Gas (VJG) (liên doanh giữa Taiyo Nippon Sanso và Tomoe Shokai), Air Water Vietnam, Iwatani Vietnam, Tomoe Vietnam,  Messer, Air Liquide và Linde. Trong đó  VJG và Messer chiếm phần lớn thị trường.

Khí công nghiệp có khách hàng lớn ổn định cho lĩnh vực sản xuất sắt thép, điện táng, và công nghiệp hoá chất. Các khách hàng sử dụng chính gồm: Hoa Phat, Pomina, TISCO, thép POSCO và Vina Kyoei, Nghi Son, ASP, LSP, Long Sơn. Hoà Phát chuẩn bị thêm lò cao mới tại miền Trung, còn ASP sẽ mở rộng dây chuyền sản xuất.

Nhu cầu khí argon và các bon đioxit cũng tăng trưởng đều. Các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư sử dụng rất nhiều khí argon. Tuy nhiên việc gia tăng các quy định về an toàn môi trường dẫn đến sự hạn chế sử dụng chất khí này.

Khí CO2 lỏng được các nhà máy sản xuất phân bón sử dụng chủ yếu. Nhu cầu tăng cao nhưng khi nguồn phân bón nhập khẩu gia tăng thì nhu cầu khí CO2 cho sản xuất bị chậm lại. Do công nghiệp hoá dầu chưa phát triển nên nguồn cung khí Co2 và Hydro tại Việt Nam rất hạn chế, chỉ có ở một số nhà máy lớn.

 

Hội thảo điện gió 2019 - Vietnam Wind power 2019

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực

Ngày 11-12/6/2019 tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo “Thúc đẩy hỗ trợ tài chính cho điện gió Việt Nam”. Hội thảo do diễn giả Ashish Sethia, trưởng bộ phận phân tích và tư vấn Châu Á Thái Bình Dương, Bloomberg New Energy Finance trình bày, nằm trong hội thảo “Năng lượng gió Việt Nam - Vietnam Wind Power” lần 2 do Global Wind Energy Council hợp tác với  GIZ, đại sứ quán Đan Mạch, Ai len tổ chức.

Việt Nam là thị trường sôi động năng lượng gió  với sự phát triển các dự án trên bờ và ngoài khơi. Điện gió ngày càng đóng góp quan trọng cho các ngành công nghệ cao do tăng trưởng nhu cầu sử dụng điện, đảm bảo giá điện ổn định, sử dụng năng lượng sạch. Năng lượng gió cấp điện ổn định, không gây chênh lệch phát tải cho lưới điện và phải xử lý vật liệu sau sử dụng. Tuy nhiên năng lượng gió yêu cầu vốn đầu tư lớn, thực hiện dự án dài, khó khăn khi ký hợp đồng mua bán điện ... gây cản trở đầu tư. Việt Nam đã có 327 MW điện gió được lắp đặt và theo báo cáo của Global Wind Energy Council sẽ có tới 1GW điện gió được triển khai đến năm 2021. Công ty Enterprize Energy có trụ sở tại Singapore liên doanh cùng nhà sản xuất tua bin gió OEM MHI Vestas, tập đoàn công nghệ DNV GL, Renewable Energy Global Solutions và tập đoàn dầu khí PetroVietnam đã được Chính phủ chấp thuận khảo sát dự án phát điện ngoài khơi kê gà, 20-50 km ngoài khơi Bình Thuận và Bà Rịa Vũng Tàu với công suất 3.4 GW mức đầu tư 12 tỷ đô la. Giai đoạn 1 dự án có công suất 600 MW sẽ phát điện thương mại vào 2022, toàn bộ dự án vào năm 2026. Ngân hàng Thế giới và Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC) hồi đầu năm nay đã đánh giá tiềm năng kỹ thuật của Việt Nam cho điện gió ngoài khơi cố định và nổi ở mức 309GW.

Trong khuôn khổ hội thảo, các chuyên gia làm rõ những thách thức hiện tại của việc tài trợ cho các dự án gió ở Việt Nam, giải thích rủi ro và giảm thiểu hồ sơ vay vốn dự án.  Các chuyên gia châu Âu, Đan Mạch, Ai len chia sẻ công nghệ mới nhất về phát điện xanh sạch cho môi trường.