di động

  • Nâng cao ARPU bằng Wi-Fi , giảm tải lưu lượng di động

    Các nhà khai thácđang chứng minh Wi-Fi ngày càng trở nên quan trọng như giải pháp để giảm tải lưu lượng dữ liệu và phát triển thế hệ tiếp theo dịch vụ Wi-Fi Hotpot 2.0 để mang lại lợi nhuận nhiều hơn.

    Các nhà khai thác di động sẽ giảm tải gần 50 phần trăm của lưu lượng dữ liệu được tạo ra bởi điện thoại thông minh, máy tính bảng và các thiết bị 3G/4G qua Wi-Fi và small cell (mạng di động nhỏ) vào năm 2013, theo báo cáo mới của Juniper Research "Mobile Data Offload & Onload: Wi-Fi, Small Cell & Carrier-Grade Strategies 2012-2017".

    Công ty này nối toàn cầu sẽ có 9.000 petabyte hoặc 10 tỷ lượt video tải về."Người tiêu dùng trên thực tế thích nghi với tốc độ  dịch vụ dữ liệunhanh hơn, dẫn đến nhiều hơn việc sử dụng dữ liệu", Nitin Bhas, nhà phân tích cấp cao của Juniper Research cho biết.
    "Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ lần lượt tạo ra những cơ hội mới trong các ngành kinh tế khác nhau bao gồmthương mại, năng lượng, y tế và giáo dục".

    Bên cạnh việc tăng cường lưu lượng giảm tải, các nhà khai thác quan tâm đến Wi-Fi như một cách để kiếm doanh thu mới.Theo khảo sát các nhà cung cấp dịch vụ toàn cầu, mô hình Wifi trả tiền như Wifi chất lượng cao,  chuyển vùng Wifi đang được phát triển nhanh nhất.

    "Thế hệ WiFi tiếp theo hostpot 2.0 đã phát triển cho phép cung cấp chất lượng dịch vụ như di động và tích hợp với mobile RAN," Webb nói.
    "Hotspot 2.0 đã đi một chặng đường dài để xây dựng cầu nối giữa các công nghệ , nhưng các nhà khai thác vẫn đang tìm cách để định vị WiFi trong các dịch vụ băng thông rộng của họ mô hình dịch vụ sẽ tạo ra doanh thu nhất."

    Các nhà khai thác quan tâm để áp dụng các tiêu chuẩn 802.11ac khi nó được thương mại hóa dự đoán rằng ít nhất 30 phần trăm các điểm truy cập Wi-Fi mới sẽ dựa trên các tiêu chuẩn này vào cuối năm 2014.

    Wi-Fi miễn phí chuyển vùng cũng phát triển. Liên minh băng thông rộng không dây đã thông báo rằng một số nhà khai thác, bao gồm AT & T, BT, NTT DoCoMo và Bồ Đào Nha Telecom đã đạt được tuân thủ đánh giá mạng lưới theo một tập các yêu cầu đối với Wi-Fi miễn phí chuyển vùng đặt ra bởi Liên minh băng thông rộng không dây.

  • Nhiễu xuyên điều chế thụ động thấp - Low PIM

    Nhiễu xuyên điều chế thụ động, biến dạng PIM

    Nhiễu xuyên điều chế thụ động (PIM) là dạng nhiễu xuyên biến dạng xuất hiện trong trong các phần tử thụ động hoặc đáp ứng không tuyến tính với tín hiệu như cáp đồng trục, đầu nối cáp đồng trục, điểm đấu nối giữa các kim loại khác nhau...  Nhiễu này thường khó tìm và chúng ta phải tìm cách loại bỏ nhiễu.

    Nhiễu xuyên điều chế thụ động (PIM) là gì

    Nhiễu xuyên điều chế thụ động xuất hiện khi hai hoặc nhiều tín hiệu xuất hiện trong các thành phần hoặc thiết bị thụ động không tuyến tính. Các tín hiệu này trộn hoặc nhân lên với nhau tạo ra các tín hiệu liên quan đến tín hiệu gốc. PIM chỉ xuất hiện trong các phần tử không được dự kiến hoạt động tuyến tính. Sự phối hợp các đi ốt trong mạch điện không được coi là PIM vì sự phối hợp này tạo ra biến đổi tín hiệu mong muốn. PIM thông thường tạo ra các biến đổi phi tuyến tính không mong muốn trong đầu nối, bộ chuyển mạch (switch) và bộ cách ly (isolator)... Tại đây quá trình oxy hoá vật liệu tạo ra sự biến đổi không tuyến tính.

    Trong các sản phẩm PIM tạo ra sự biến đổi không tuyến tính như trong bộ trộn tín hiệu. Các sóng hài do các tần số đầu vào trộn lẫn với nhau tạo ra các tần số đầu ra. Với tháp phát công suất cao, sự rỉ sét các ốc nối và ô xy hoá kết hợp các bộ phận không tuyến tính sẽ tạo ra nhiễu xuyên điều chế thụ động. Hiệu ứng này đôi khi được gọi là hiệu ứng bu lông gỉ.

    Cơ bản về PIM

    Nếu 2 tần số F1 và F2 kết hợp với nhau, tín hiệu điều chế xuất hiện tại các tần số ± M ⋅ f1   ± N ⋅f2.

    Phổ nhiễu xuyên điều chế 2 tín hiệu

    Các tần số điều chế xuyên được liệt kê theo thứ tự số lần tần số kết hợp. Ví dụ  2 x F1 - 1 x F2 có thứ tự 3,  3 x F1 + 2 x F2 có thứ tự 5...

    Bảng nhiễu xuyên thụ động

    Thứ tự Tần số hiệu Tần số cộng
    3 2 F1 - 1 F2 2 F1 + 1 F2
    5 3 F1 - 2 F2 3 F1 + 2 F2
    7 4 F1 - 3 F2 4 F1 + 3 F2
    9 5 F1 - 4 F2 5 F1 + 4 F2

     Tín hiệu PIM tạo ra có thể không gây nhiễu với tín hiệu khác nếu không cộng hưởng với nhau. Tuy nhiên phần lớn các tín hiệu này luôn gây nhiễu cho các tín hiệu khác. Với các sản phẩm PIM, mức nhiễu tín hiệu thường thấp nên chỉ gây nhiễu cục bộ hoặc trong một hệ thống. 

    Nếu 2 tần số được điều chế đưa vào, nó sẽ chiếm băng thông lớn hơn băng thông dành cho một tần số không điều chế. Khi tần số điều chế sử dụng nhiều hơn, tín hiệu điều chế trải rộng hơn và tăng mức nhiễu nền lên làm giảm hiệu suất hoạt động.

    Phổ tần số nhiễu xuyên điều chế của 2 tín hiệu được điều chế. 

    Mức PIM điển hình và ảnh hưởng

    Nhiễu xuyên điều chế thụ động thường có giá trị nhỏ. Nguyên nhân mức tín hiệu này do biến đổi không tuyến tính giả gây ra. Mức tín hiệu điển hình thấp hơn 100 db so vơí mức tín hiệu có thể là do PIM.  

    Mạch chủ đông như bộ khuyếch đại tạo ra mức nhiễu xuyên và biến dạng cao hơn nhưng dễ loại bỏ hơn bằng các bộ lọc. Trong khi đó nhiễu xuyên thụ động không thực hiện như vậy được.

    Nhiễu xuyên thụ động phát sinh do máy phát Tx và máy thu Rx đều sử dụng antenna và cáp dẫn sóng feeder chung. Trong nhiều hệ thống cả phát và thu chạy song song dùng bộ ghép song công (duplex) trong đó phát và thu sử dụng tần số khác nhau.  

    Tín hiệu phát được lọc và giảm mức để không ảnh hưởng đến tín hiệu thu. Ngoài ra tín hiệu kết hợp  sẽ chặn tín hiệu trực tiếp từ máy phát để không ảnh hưởng đến tín hiệu thu. Tuy nhiên nhiễu xuyên thụ động trên đường tín hiệu sau khi kết hợp, trên cáp dẫn sóng feeder hoặc antenna sẽ gây ra nhiều vấn đề. Các sản phẩm PIM sẽ gây tín hiệu không mong muốn trên băng tần thu, thập chí nhiễu trên băng phát gây sự cố.

    Hệ thống điển hình bị tác động bởi nhiễu xuyên điều chế

    Thậm chí các sản phẩm gây nhiễu xuyên thụ động dưới 100 db hoặc thậm chí 120 dB dưới mức tín hiệu phát, mức tín hiệu này cũng đủ gây hiệu suất bộ thu bị suy giảm nếu suy giảm nằm trong băng thu.

    Ví dụ điển hình hệ thống bộ phát và bộ thu dùng chung cáp dẫn sóng và ăng ten là các trạm phát sóng di động, hệ thống thu tín hiệu vệ tinh, hệ thống bộ đàm hoặc không dây sử dụng ghép song công cho tín hiệu phát và tín hiệu thu, truyền theo hai hướng sử dụng tần số khác nhau.

    Nguyên nhân gây ra nhiễu xuyên điều chế thụ động

    Nhiễu xuyên điều chế thụ động xuất hiện bởi sự không tuyến tỉnh dưới tác động của từ 2 tín hiệu trở lên. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra không tuyến tính nhưng những nguyên nhân chủ yếu bao gồm:

    • Tại các điểm nối khi các kim loại khác nhau kết nối và bị oxi hoá. 
    • Đầu nối cáp đồng trục - các đầu nối rất dễ bị oxy hoá. Đặt biệt các đầu nối mạ bạc khi lớp oxit bạc tạo ra do tác động của thời tiết hoặc sử dụng lâu ngày. Lớp oxit bạc sẽ tác động như một diốt làm tăng nhiễu xuyên điều chế thụ động. Để hạn chế các đầu nối cần được chế tạo từ thành phần chất lượng cao, thi công đúng cách và bọc chống nước khi sử dụng ngoài trời. Kể cả như vậy thì chất lượng cũng sẽ kém đi theo thời gian. Các đầu nối chế tạo vật liệu kém, hoặc thi công kém sẽ có mức tăng nhiễu xuyên điều chế thụ động nhanh hơn.
    • Ống dẫn sóng feeder - ống dẫn sóng cáp đồng trục feeder tạo ra các mức nhiễu xuyên điều chế thụ động khác nhau. Lớp lưới tiếp mát sát vỏ (braid) có nhiều sợi kim loại kết nối là nguồn của nhiễu xuyên thụ động PIM. Thậm chí khi sử dụng băng tiếp mát (foild)  vẫn có tác động tiếp giữa các lớp băng xung quanh lớp cách điện. Với các ứng dụng cần mức PIM thấp (Low PIM) thì các nhà sản xuất sẽ tạo ra một số loại cáp đặc biệt có mức mức PIM dưới -140dBc, nhưng với giá thành cao hơn.
    • Kết nối lỏng lẻo hoặc đầu tiếp xúc không đồng nhất.
    • Đầu nối bị bẩn. Kiểm tra các chỗ đầu nối bị bẩn gây xấu tín hiệu.
    • Tác động hiệu ứng anode do nước hoặc hơi ẩm lọt vào đầu nối.
    • Do sử dụng các kim loại nhiễm từ như sắt, niken và thép sẽ làm tăng nhiễu xuyên điều chế thụ động. Những kim loại này có hiệu ứng trễ từ khi có năng lượng. Kết quả mức tín hiệu phụ thuộc theo, mặc dù rất nhỏ đầu vào.
    • Hiện tượng phóng tia lửa điện làm tăng mức nhiễu xuyên điều chế thụ động. Phóng tia lửa điện gây hư hỏng đầu nối, oxy hoá và tạo hiệu ứng đi ốt. Phóng tia lửa điện sinh ra do các loại đầu nối chất lượng kém, hoặc thậm chí các đầu nối thay nóng hoặc khi tháo các đầu nối.

    Phần lớn các nguyên nhân gây ra nhiễu xuyên điều chế là các thành phần trong đầu nối cáp đồng trục. Nếu đầu nối không được vặn chặt, đầu nối bị oxyhoá... nó sẽ là nguồn gây nhiễu xuyên điều chế thụ động.

    Khó khăn trong việc tìm ra chỗ gây nhiễu xuyên điều chế thụ động là sự không tuyến tính gây nhiễu không biểu hiện ở mức tín hiệu vào thấp. Nó có nguyên nhân:

    • Mức PIM thường thấp và tại mức công suất thấp các sản phẩm PIM thường dưới mức nhiễu nhiệt.
    • Không đủ để xác định vật liệu liên quan. Nếu nhiễu xuyên điều chế thụ động tăng lên từ hiệu ứng trễ thí tín hiệu kích hoạt không đủ lớn để đi vòng quanh vật liệu gây trễ.

    Phòng chống nhiễu xuyên điều chế thụ đông

    Phần lớn vấn đề liên quan đến điều chế thụ động đều liên quan đến đường truyền dẫn tín hiệu đặc biệt là các đầu nối kết nối. Để giảm thiểu PIM cần lưu ý và thưc hiên một số công tác. Phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn chữa bênh.

    • Kiểm tra: Khi tháo rời các đầu nối cần kiểm tra xem có bị hư hỏng vật lý không. Kim trung tâm không được lỏng, lõm hoặc xước. Bất kỳ xước hoặc bụi nào cũng gây hồ quang điện tạo hiệu ứng đi ốt, là nguyên nhân gây PIM.
    • Không dùng các đầu nối bị mòn. Các đầu nối bị mòn luôn gây ra vấn đề. Nguyên nhân bị mòn đầu nối do việc tháo ra lắp vào đầu nối nhiều lần. Đặc biệt các đầu nối loại vặn sẽ có chu kỳ sử dụng thấp hơn. Một số loại đầu nối không cho phép vặn xoắn liên tục vài vòng và nhân viên kỹ thuật cần tập huấn trước khi lắp đặt để tránh gây "mòn" hư hại đầu nối.

    Một số loại đầu nối được thiết kế phải vặn rất nhiều vòng trước khi có thể tháo ra khỏi thiết bị. Vì vậy khi bị lỏng, đầu nối không bị phát hiện khi dùng đo PIM mà chỉ thể hiện như có chút vấn đề về tín hiệu.

    • Làm sạch: Cần làm sạch các đầu nối bị bụi bẩn để giảm PIM tạm thời, để được lâu dài hơn cần:

    Loại bỏ các hạt bụi: thổi bụi dùng khí nén áp suất thấp. Dùng tăm để lấy các hạt bụi mà khí nén thổi chưa hết. Không dùng các vật sắc kim loại để lấy bụi vì sẽ gây hư hỏng bề mặt kim đầu nối.

    Làm sạch bằng cồn Isopropyl: thấm cồn Isopropyl lên tăm bông để làm sạch phần còn lại bề mặt. Chỉ thấm cồn đủ dùng không dùng nhiều quá vì cồn có thể làm chảy nhựa khi dùng quá nhiều.

    Thổi lại bằng khí áp suất thấp: thổi lại bề mặt bằng khí áp suất thấp để loại các hạt bụi nhỏ còn lại và làm khô bề mặt.

    Cẩn thận khi vặn các đầu nối lại với nhau: Không làm xoắn các đầu nối khi nối lại hoặc vặn lại chúng với nhau. Khi bị xoắn các kim trung tâm sẽ bị xước, không nối chính xác được với nhau. Những vết xước nhỏ sẽ làm tăng cả PIM và VSWR.

    • Lực vặn xoắn phù hợp: Lực vặn xoắn phù hợp với đầu nối để giảm thiểu PIM. Nếu lực vặn thấp sẽ tạo ra khe hở và gây PIM kim trung tâm. Nếu lực vặn xoắn cao quá gây xước hỏng đầu nối cũng gây PIM. Với đầu DIN 7/16 lực xoắn phù hợp khoảng 20 foot pound (tương đương 27.12 Nm), với đầu N lực xoắn phù hợp khoảng 12 inch ponds (1.4 Nm). Nếu nhà sản xuất chỉ định lực xoắn thấp hơn thì phải áp dụng lực xoắn đấy. Dùng cờ lê có lực xoắn phù hợp khi vặn các đầu nối.

    Các bước trên làm giảm thiểu gây tăng PIM. Các bước này cũng làm giảm công suất phản xạ do chất lượng đầu nối kèm.

    Mức PIM trong sản phẩm thường thấp nên rất khó phát hiện. Để đảm bảo PIM cần tuân thủ trong quá trình sản xuất và lưu ý những chỗ có thể gây PIM. Nếu đầu nối hoặc thiết bị bị dùng ngoài trời thì đây là khu vực cần kiểm tra PIM.

    Đo và thiết bị đo PIM

    Với các hệ thống điều chế thụ động, PIM là thông số ảnh hưởng nhiều đến khả năng hoạt động. Khi PIM gia tăng, cần xác định vị trí và loại trừ nguyên nhân gây nên PIM, để hiệu suất hoạt động toàn bộ hệ thống được cải thiện.

    PIM ảnh hưởng nhiều lên các hệ thống truyên song công, có nghĩa là cả phát và thu cùng một lúc. Nếu như nhiều tín hiệu cùng phát một lúc thì ảnh hưởng sẽ nặng nề hơn. Với các trạm phát sóng di động thì nhièu tín hiệu phát cho cho nhiều nhà cung cấp dịch vụ thì PIM lại đặc biệt quan trọng.

    Máy đo PIM

    Thiết bị đo PIM

    Nhiều máy đo PIM được sản xuất để nhanh chóng xác định nguyên nhân và vị trí gây lỗi PIM để phát hiện sửa chữa. Vài loại máy được thiết kế triển khai tại hiện trường, dễ dàng sử dụng.

    Thiết bị đo PIM dùng đo nhiều thông số khác nhau như mức nhiễu xuyên điều chế, đôi khi cả khoảng cách từ nguồn gây nhiễu PIM đến máy đo PIM. Thông số này rất thuận tiện trong việc xác định lỗi hệ thống cáp truyền dẫn feeder khi có nhiều nguyên nhân có thể gây nên nhiễu xuyên điều chế không mong muốn.    

    Đo PIM

    Đo PIM được yêu cầu trong nhiều lĩnh vực. Nhưng phổ biến nhất là đo PIM của ăng ten và cáp truyền dẫn feeder trạm phát sóng di động. Ở đây có nhiều nguyên nhân gây PIM như đầu nối, điểm kết nối, cáp truyền dẫn feeder cho ăng ten.

    Hệ thống có thể hoạt động tốt tại thời điểm lắp đặt nhưng sẽ xuống cấp theo thời gian sử dụng, đặc biệt là tác động của thời tiết. Vì thế nên cần đo PIM để đảm bảo chất lượng hoạt động ổn định, và khi có vấn đề xuất hiện xác định nguồn gây nên tín hiệu nhiễu xuyên điều chế thụ động.

    Với sự quan trọng của việc đo PIM, IEC Technical Committee 46, Working Group 6 đang làm việc để cho ra đời tiêu chuẩn về cách thức đo nhiễu xuyên điều chế thụ động cho các thiết bị thụ động RF và microwave. 

    Phân biệt đo quét dòng (Line sweeping) với đo PIM

    Khi kiểm tra thông số RF của ăng ten và cáp feeder cho hệ thống như trạm di động thì đây là hai phép đo hay được sử dụng nhiều nhất. Mỗi phép đo phục vụ cho mỗi mục đích khác nhau:

    Đo quét dòng (Line sweeping): Đây là phép đo xác định suy hao và hệ số phản xạ của hệ thống truyền dẫn tại băng tần xác định. Nó không thể xác định hệ số PIM nhưng xác định được vị trí kết nối kém có thể gây nên PIM.

    Đo PIM: Đo PIM xác định nhiễu xuyên phản xạ thụ động tại sản phẩm. Nó không thể đo suy hao hay hệ số phản xạ.

    Vậy hai kiểu đo này là hoàn toàn khác nhau mặc dù đều sử dụng cho hệ thống truyền dẫn vô tuyến. Chỉ khi cần xác định sản phẩm nhiễu xuyên phản xạ thì mới cần đo PIM.

    Máy đo PIM

    Máy đo PIM là thiết bị hoàn chỉnh gồm bộ tạo tín hiệu, phân tích phổ và một số thành phần chuyên dụng khác dùng phát hiện lỗi PIM dùng tại hiện trường như trạm di động, trạm phát sóng.  

    Mô hình máy đo PIM

    Mô hình trên làm mô hình máy đo PIM điển hỉnh. Từ máy đo PIM hai tín hiệu có tần số phụ thuộc nhau được khuyếch đại lên mức đủ lớn để thực hiện đo. Hai tín hiệu này được kết hợp trong bộ kết hợp tín hiệu (combiner) cách ly để trách tín hiệu dội ngược lại bộ tạo tín hiệu gây nhiễu xuyên điều chế ảnh hưởng đến kết quả đo.

    Hai tín hiệu từ bộ tạo tín hiệu được ghép song công trong thiết bị đo PIM. Chỉ một tín hiệu được truyền qua thiết bị hoặc thành phần được test (UUT- Unit Under Testing) như cáp truyền dẫn tín hiệu, dây nhảy... Thiết bị , thành phần được được test được đấu với tải giả 50 Ohm để đảm bảo mô phỏng.

    Bất kỳ tín hiệu PIM nào tạo ra trong băng tần thu sẽ quay lại bộ ghép song công và truyền đến bộ thu RX để phát hiện mức và tần số. Tần số của tín hiệu PIM sẽ được phát hiện vì chúng sẽ liên quan đến 2 tần số phát ban đầu, f1 và f2, có tần số f1 ± m⋅f2.  

    Các phép đo PIM thường được thực hiện tại hiện trường. Kỹ sư đo PIM sẽ phải leo lên cột thu ăng ten hoặc một số địa hình phức tạp khác để thực hiện các phép đo kiểm này. Vì thế nên máy đo PIM cần thiết kế để vận hành với sự can thiệp tối thiểu của con người. Máy phải được thiết kế nhỏ gọn, ít thiết lập phù hợp với kỹ sư vận hành trên cột cao.

     

  • NSN cung cấp mạng lõi, mạng truy nhập vô tuyến cho VMS

    VMS MobiFone, nhà cung cấp dịch vụ di động hàng đầu Việt Nam, sẽ tăng50% dung lượng chuyển mạch gói dữ liệu bằng giải pháp mạng lõi Nokia Siemens Networks. Ngoài ra, theo một hợp đồng khác, Nokia Siemens Networks sẽ hiện đại hóa mạng GSM  mạng vô tuyến 3G tại miền Nam và miền Trung của VMS. MobiFone sẽ nâng cao việc xử tăng dữ liệu trên mạng do số lượng ngày càng tăng người dùng và phục vụ tốt hơncác dịch vụ băng thông rộng di động của mình.

  • ORBCOMM bổ sung LoraWan IoT theo dõi container

    ORBCOMM thông báo đã thêm khả năng dùng mạng công nghệ LoRa WAN diện rộng công suất thấp cho ứng dụng quản lý container IoT của hãng. Sản phẩm này do hãng hợp tác với công ty Ireland Net Feasa phát triển, dùng theo dõi container trên các tàu hàng. Hệ thống bao gồm ứng dụng quản lý container VesselConnect của ORBCOMM, kết hợp thiết bị Net Feasa EvenKeel IoT truyền dẫn thông tin thời gian thực container đông lạnh qua LoraWan gateway lắp trên tàu.

    Thông tin chủ yếu của container bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, cảnh báo được thu thập bằng thiết bị EvenKeel và cập nhập liên tục lên VesselConnect. Thông tin sau đó được truyền qua vệ tinh về ứng dụng trạm trên đất liền ORBCOMM, cho phép khách hàng định vị tất cả các container trên tất cả tàu hàng từ trung tâm chỉ huy và điều khiển duy nhất. Đây là hệ thống hai chiều nên cho phép nhân viên trên tàu và khách hàng trên đất liền có thể điều khiển nhiệt độ trên container. Ứng dụng LoraWan này tương thích với tiêu chuẩn IoT của Hiệp hội Vận tải Container Kỹ thuật số (Digital Container Shipping Association -DCSA). 

    ORBCOMM là đối tác chiến lược của Công ty TNHH MTV Thông tin điện tử hàng hải Việt Nam (VISHIPEL) trong hợp tác giám sát tàu biển tàu cá tại Việt Nam. 

  • Samsung Electronics chọn EM-Tech là nhà cung cấp loa cho Galaxy Note 20

    Samsung Electronics đã chọn công ty Hàn Quốc EM-Tech nhà máy Việt Nam là nhà cung cấp loa cho điện thoại Galaxy Note 20 và Galaxy Note 20 FE. Nhà máy EM-Tech tại Việt Nam sẽ chạy hết công suất để đáp ứng nhu cầu.

    Nhà máy đã lắp đặt dây chuyền dán polyurethane nóng chảy (hot-melt) nhiều lớp từ giữa năm để sản xuất loa cho điện thoại thông minh cao cấp. Thiết bị dán keo nhựa dẻo đàn hồi nhiệt (thermo plastic elastomer) do hãng Musashi Nhật sản xuất và van bơm (jetting valve) từ Gao Kai Trung Quốc. Keo polyurethane do Weldbond cung cấp.

    Các nhà cung cấp cũ loa điện thoại cho Samsung là Goretek và AAC của Trung Quốc. Động thái chọn EM_Tech là nhà cung cấp phần lớn cho thấy Samsung muốn giảm nguồn cung từ nhà cung cấp Trung Quốc cho các sản phẩm của mình.

     

  • Small cell

    By

    Small cells là node truy nhập vô tuyến công suất thấp dùng băng tần cấp phép hoặc không cần cấp phép với vùng phủ sóng từ 10 mét đến 2 km, trong khi các macrocell phủ sóng trên 10 km. Với nhà cung cấp dịch vụ di động đang khó khăn trong việc tăng trưởng quá mức của dữ liệu di động, việc sử dụng biện pháp giảm tải dữ liệu di động (Mobile data offloading) hiệu quả hơn nhờ việc sử dụng hiệu quả phổ tần số. Small cells là biện pháp quan trọng cho việc giảm tải dữ liệu 3G, và rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ di động dùng Small cells như biện pháp duy nhất để nâng cao hiệu quả phổ tần số LTE hơn so với macrocells. ARCchart dự báo đến năm 2017 sẽ có khoảng 5 triệu thiết bị Small cells đưa vào sử dụng hàng năm.

  • Small Cell Forum công bố giải thưởng năm 2012

    Diễn đàn Tế bào Di động nhỏ (Small Cell Forum), hiệp hội ngành công nghiệp hỗ trợ triển khai Tế bào di động nhỏ trên toàn thế giới hôm nay công bố người thắng cuộc của giải thưởng Diễn đàn 2012. Các giải thưởng công nhận thành tích xuất sắc và đóng góp, ngành công nghiệp Tế bào di động nhỏ. Các giải thưởng đã được trao tại một buổi dạ tiệc London.

     Người chiến thắng là:

    1. Thiết kế sáng tạo và công nghệ điểm truy cập dân cư femtocell
    Vodafone & Sagemcom - 3G Trạm Femtoplug

    Với 13 hệ thống thương mại triển khai, Vodafone tiếp tục dẫn đầu triển khai femtocell. Hãng thành công đưa đến người dùng thiết bị công nghệ tiên tiến. 3G mới của Trạm Femtoplug tiếp tục truyền thống này bằng cách hỗ trợ nhiều người dùng hơn và tốc độ dữ liệu cao hơn, "Caroline Gabriel, Giám đốc Nghiên cứu, nói.

    2. Thiết kế và công nghệ cho điểm truy nhập không phải dân cư

    Ubiquisys & Intel - Smart Cell Devices

    "Rõ ràng rằng các tế bào di động nhỏ một công cụ quan trọng để hỗ trợ mạng di động băng thông rộng trong tương lai khi lưu lượng tải ngày càng tăng. Tuy nhiên, các tế bào di động nhỏ tiếp tục bị gánh nặnghạn chế phổ tần vô tuyếndi động truyền thống backhaul. Ubiquisys 'các thiết bị di động thông minh vượt qua những thách thức này bằng cách lưu trữ sức mạnh xử lý Intel, tạo điều kiện cho các dịch vụ truy cập địa phương không cần nhu cầu truyền dẫn liên tục, trong khi cũng hỗ trợ Wi-Fi.

    3. Thiết kế và công nghệ tế bào di động nhỏ
    Nokia Siemens Networks - LTE Flexi Zone

    4.Small cell service or application
    Quortus - EdgeCentrix: Turning Small Cells into Complete Mobile Networks

    5.Công nghệ cho ứng dụng thương mại

    Alcatel-Lucent - First Live, Small Cell LTE HetNet on a Commercial Network

    Mobile World Congress 2012 cho thấy Alcatel Lucent cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào tương lai của băng rộng di động với hệ điều hành tế bào di động nhỏ hetnet LTE cho các điểm truy cập ở Barcelona. Không chỉ là giải quyết giao diện các mạng và thách thức quản lý, thiết bị cho thấy tính khả thi của dịch vụ tiên tiến mới như điện toán đám mây  game, thực tế gia tăng và truyền hình video trực tiếp.

    6. Đổi mới cho ứng dụng thương mại

    SK Telecom & Contela & Mindspeed - The World’s First Data-Only Femto Service

    7. Commercial deployment – progress in deployment
    Vodafone - Worldwide Deployment Centered Around Customer Needs and Benefits

    8. Enabling technology (components, subsystems, modules, software, etc)
    Radisys - Trillium TOTALeNodeB

    9.Tầm nhìn xã hội - thúc đẩy di động tế bào nhỏ cho phát triển xã hội / kinh tế / môi trường

    Vodafone - Femtocell solutions to enhance sustainable service access for rural and remote customers

    10.Judges Choice
    ip.access - Network Orchestration System Combined with the Nanoconverge Solution

    11.Cá nhân đóng góp cho hoạt động diễn đàn tế bảo di động nhỏ

    Jim Worsham – AT&T

    12. Chủ tịch xuất xắc

    Andy Tiller – Cho đóng góp khi làm tại  ip.access

    Thông tin thêm về giải thưởngCông nghiệp Tế bào Di động nhỏ 2012, xin vui lòng truy cập:

    http://www.smallcellforum.org/awards/

  • So sánh co rút nguội (Cold Shrink) và Co rút nhiệt (Heat Shrink)

    VT Techlogy
    ...

Co rút nguôi (ColdShrink) và co rút nhiệt (HeatShrink) trông bên ngoài giống nhau, nhưng đặc tính của chúng rất khác nhau. Hai loại ống này có cách thi công, ứng dụng và đặc tính vật lý khác hẳn nhau.

Co rút nguôi và co rút nhiệt dùng trong đấu nối cáp như: hàn nối, bảo vệ ăn mòn môi trường, kết thúc dùng cho cáp hạ thế và trung thế. Các yếu tố về tính dễ dàng sử dung và thích hợp cho môi trường được xem xét trong quá trình lựa chọn sản phẩm sử dụng nhiều hơn là giá sản phẩm.

  • So sánh công nghệ LoRaWAN và NB-IoT

    So sánh công nghệ LoRaWAN và NB-IoT VT Techlogy

    Trong cuộc cách mạng Internet kết nối mọi vật (Internet of Things IoT), chỉ có hai công nghệ chính dùng kết nối các thiết bị với Internet trong các giải pháp Thông minh như lưới điện thông minh, giao thông thông minh. Đó là Công nghệ mạng diện rộng năng lượng thấp băng tần hẹp IoT (NB-IoT) và công nghệ LoRaWAN.

    NB-IoT được thiết kế dùng kết nối thiết bị với khoảng cách xa với điện toán đám mây sử dụng hạ tầng mạng di động, tương thích hoàn toàn với mạng di động 4G LTE. LoRaWAN được thiết kế dùng mạng không dây băng tần GigaHezt không cần cấp phép kết nối mạng không dây diện rộng công suất thấp (LPWAN) giữa cảm biến, bộ tập trung với ứng dụng trên máy chủ đám mây. Dưới đây chúng ta sẽ so sánh các công nghệ này để có giải pháp phù hợp lựa chọn sử dụng khi kết nối IoT.

  • SoftBank đầu tư 250 triệu đô vào ứng dụng di động tìm taxi GrabTaxi

    Công ty viễn thông Nhật SoftBank Corp đã đầu tư hơn 250 triệu USD để vào ứng dụng di động tìm taxi GrabTaxi Holdings Pte Ltd, và là khoản đầu tư lớn nhất tại khu vực Đông Nam Á.

    GrabTaxi, cho phép khách hàng gọitaxi gần nhất với vị trí của họ bằng điện thoại di động, hoạt động ở Singapore, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines. Trong tuyên bố, hai công ty cho biết khoản đầu tư được dùng để mở rộng phạm vi ứng dụng trong khu vực.

    Khoản đầu tư vào GrabTaxi diễn ra chỉ một tháng sau khiSoftBank Nhà sáng lập kiêm giám đốc điều hành, tỷ phú Masayoshi Son công bố tài trợ 627 triệu đô la cho sàn giao dịch trực tuyếnSnapdeal, trong kế hoạch đầu tư 10 tỷ đô la vào thị trường bán lẻ trực tuyến đang bùng nổ tại Ấn Độ. Công ty Nhật Bản này cũng là nhà đầu tư lớn nhất cho trang thương mại điện tử Trung Quốc khổng lồ Alibaba Group Holding Ltd.

    Với đầu tư SoftBank, GrabTaxi tuyên bố tăng vốn lên 340 triệu đô la. Tuyên bố không cho biết SoftBank sở hữu bao nhiêu vốn GrabTaxi.Các nhà đầu tư khác choGrabTaxi, được phát triển bởi hai sinh viên tốt nghiệp Harvard Business School ra mắt tại Malaysia vào năm 2012 với tên ban đầu MyTeksi, gồm công ty đầu tư nhà nước Singapore Temasek Holdings công ty đầu tư Mỹ Tiger Global Management. Ứng dụng cạnh tranh với Easy Taxi và Uber.

    Tìmtaxi trong giờ cao điểm và ngày mưa rất khó khăn trong thành phố, là thị trường lớn đang mở với các hợp đồng hợp tác bên thứ ba với hãng taxi.

     

  • Synchronoss cung cấp dịch vụ đám mây cá nhân di động tại Việt Nam

    Synchronoss Technologies, Inc (NASDAQ: SNCR), công ty đứng đầu sáng tạo di động về điện toán đám mây và kích hoạt mềm cho nhà cung cấp dịch vụ di động, đã cung cấp dịch vụ đám mây cá nhân (personal cloud) và giải pháp kích hoạt dịch vụ tại Việt Nam, đất nước đang có sự gia tăng mạnh sử dụng điện thoại thông minh và dữ liệu di động.

    Synchronoss sẽ triển khai phần mềm đã đạt giải thưởng kích hoạt dịch vụ vàSynchronoss Personal Cloud™ để tối ưu hóa kinh doanh dịch vụ viễn thông bán buôn, tùy biến thuê bao mới sử dụng điện thoại thông minh, cấp sao lưu dữ liệu đám mây cá nhân thuê bao dịch vụ lưu trữ dữ liệu di động.

    Thị trường di động Việt Nam một trong những năng động và phát triển nhanh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Theo báo cáo tháng 6 năm 2015 của Tổng cục Thống kê Việt Nam, cả nước hiện có 136.900.000 thuê bao di động, bao gồm 29,1 triệu thuê bao 3G - tăng so với cùng năm 29,6 phần trăm. Theo công ty nghiên cứu quốc tế IDC, Việt Nam là thị trường điện thoại thông minh đang phát triển nhanh nhất trong khu vực Đông Nam Á, doanh số bán điện thoại thông minh sẽ tiếp tục tăng trong ít nhất năm năm tới. Trong năm 2014, các lô hàng điện thoại thông minh vào Việt Nam đạt 11,6 triệu chiếc, tăng hơn 57 phần trăm so với năm trước.

  • Tiêu chuẩn AISG

    VT Techlogy
    ...
  • Nhóm tiêu chuẩn Giao diện Antena (Antenna Interface Standards Group - AISG) là tổ chức quốc tế phi lợi nhuận được thành lập bởi sự hợp tác giữa nhà sản xuất hạ tầng viễn thông và nhà khai thác mạng với mục đích phát triển tiêu chuẩn điều khiển từ xa kỹ thuật số và giám sát thiết bị ăng ten di động. Tổ chức thành lập vào tháng 11 năm 2001 với 5 thành viên ban đầu, và đến tháng sáu năm 2010 đã có 35 thành viên trên toàn thế giới có trụ sở tại Bắc Mỹ, Châu Á, Châu Âu, và Nam Thái Bình Dương. Tổ chức đã phát hành hai phiên bản tiêu chuẩn, v1.1AISG và AISG v2.0, cũng như tiêu chuẩn mở rộng, AISG ES-RAS v2.1.0 và AISG ES-RAB v2.1.0.

    Giao thức

    AISG dựa trên bus truyền thông RS485, kiểu bus dùng cho nhiều thiết bị. Các thiết bị Antena ((Antenna Line Devices) như CNI (Control Network Interface), Tower Mounted Amplifier, ACU (Antenna Control Unit), thiết bị điều khiển góc ngẩng Antenna (Antenna Tilt) được kết nối vào dưới dạng hình sao hoặc chuỗi.

    Dữ liệu

    Dữ liệu OOK (On Off Key) được điều chế 9.6 kbit/s. Tín hiệu sau điều chế được truyền trên ống dẫn sóng feeder RF đến antenna. Tất cả thiết bị tương thích AISG đều có modem kết nối với cáp RF.

    Đầu nối

    Đầu nối 8 chân hình tròn (chuẩn IEC 60.130-9 -. Ed 3.0 với khóa vít vặn) được sử dụng để kết nối  các thiết bị.

    Nguồn cung cấp

    +12V, +24V và -48V DC

     

  • Viettel Ericsson thử nghiệm kết nối 5G

    Viettel và Ericsson thông báo thử nghiệm thành công kết nối 5G. Tốc độ kết nối 5G Viettel khi sử dụng thiết bị và máy đo Ericsson đạt 1.5 - 1.7 Gps. Kết nối sử dụng băng tần 3.7-3.8 GHz (C band) và 27.5-28.5 GHz (mmWave).  

    Vào tháng 4 Viettek thông báo lắp đặt trạm gốc 5G base station đầu tiên. Trạm gốc 5G đầu tiên được lắp tại tòa nhà Viettel tại Hoàn Kiếm Hà Nội. Hai trạm tiếp theo được lắp tại 19 Tống Duy Tân và số 1 Trần Hữu Dực Hà Nội. Viettel có kế hoạch lắp thêm 70 trạm gốc 5G  thử nghiệm tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội trong tháng 6/2019.

    Cả Viettel và Ericsson đều nhận ra tầm quan trọng của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư trong đó có việc áp dụng 5G vào các ngành công nghiệp như nhà máy thông minh, giáo dục thông minh, y tế thông minh và giao thông thông minh.

  • Vinaphone chọn giải pháp hạ tầng khoá công khai IDEMIA

    <

    Vinaphone đã chọn IDEMIA là nhà cung cấp giải pháp hạ tầng khoá công khai di động (Mobile Public Key Infrastructure). Với công nghệ của IDEMIA, Vinaphone là nhà cung cấp dịch vụ di động đầu tiên cung cấp dịch vụ chữ ký số và xác thực ID bảo mật. Sự hợp tác giữa hai bên sẽ thúc đẩy sự phát triển dịch vụ ID số di động giúp khách hàng Vinaphone thuận tiện và an toàn hơn khi sử dụng các dịch vụ Chính phủ điện tử, giao thông thông minh, ngân hàng và mua bán trực tuyến. Nó cũng thúc đẩy việc sử dụng mobile eService tại Việt Nam.

    IDEMIA cung cấp cho nhà cung cấp dịch vụ di động giải pháp ID số sử dụng bảo mật online. Giải pháp bảo mật của công ty hỗ trợ cả Mobile PKI và GSMA Mobile Connect, giúp  Vinaphone triển khai các dịch vụ Mobile Connect cho khách hàng.

    Năm 2018, IDEMIA và Tổng công ty thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) cũng đã thử nghiệm trong 3 tháng thanh toán di động WISE HCE (Host Card Emulation) SDK Mobile Payment Engine với các ứng dụng, chíp thẻ của NAPAS. WISE là thanh toán không tiếp xúc cho mạng lưới thanh toán trong nước, các máy ATM. Nó hỗ trợ thanh toán cho giao thông công cộng, thanh toán không dùng tiền mặt (như vé xu buýt, hội viên thân thiết, thẻ khách hàng...).

  • VMS chọn giải pháp tối ưu mạng di động của hãng ATDI

      Công ty Thông tin di động(VMS) đã trao cho ATDI hợp đồng tối ưu hóa mạng di động 2G/3G VMS. ATDI hợp tác với đối tác địa phương, Công ty TTCI của Việt Nam để thực hiện quá trình tối ưu hóa mạng lưới.

     ATDI TTCI cùng đề xuất giải pháp tối ưu hóa mạng lưới VMS dùngICS telecom. Các công việc mà hai bên cùng hợp tác bao gồm:

     - Drive test và xác minh hiện trạng mạng hiện tại dùng thiết bị TEMS NEMO.
    - Thay đổi thông số SW và HW để nâng cao chất lượng dịch vụ thoại và dữ liệu, tính toàn vẹn và mở rộng phạm vi phủ sóng với can nhiễu thấp hơn.
    - Phủ sóng trong nhà / ngoài trời, phát hiện can nhiễuvà tối ưu hóa
    - Phân tích KPI để cải thiện hiệu suất mạng2G / 3G
    - Tìm kiếm địa điểm trạm mới để tăng năng lực phủ sóng
    - Nhập dữ liệu linh hoạt từ ICS cho phép VMS đo thông số, NEMO Temps.