năng lượng

  • 5 kỹ thuật tăng cường hiệu năng truyền tải và phân phối điện

    1. Dòng biến đổi một chiều cao áp (HVDC – High-Voltage Alternating Current)

    Phần lớn truyền tải điệnkhu vực Bắc Mỹ lưới dòng biến đổi một chiều cao áp (HVAC).

    Truyền tải dòng một chiều (DC) cớ ưu thế hơn so với dòng xoay chiều (AC) bao gồm:
         Tổn thất thấp hơn 25%,
         Gấp từ hai đến năm lần công suất so với dòng xoay chiều ở cùng điện áp ,
         Khả năng kiểm soát chính xác dòng năng lượng.

    Trong lịch sử, do chi phí cao của thiết bị nên HVDC chỉ được dùng cho truyền tải đường dài ví dụ như, kết nối các nhà máy thủy điệnlớn trên sông Columbia với các trung tâm dân cư miền Nam California.Với sự ra đời của công nghệ mới HVDC, phát minh bởi ABB được đặt tên là HVDC Light, truyền tải điện một chiều bắt đầu được áp dụng cho các khoảng cách ngắn hơn.

  • Ắc quy Lithium iron phosphate (LiFePo4)

    VT Techlogy
    ...

Ắc quy lithium sắt phosphate (lithium iron phosphate - LiFePO4), còn gọi là ắc quy (LFP - lithium ferrophosphate), là loại ắc quy có thể xạc lại thuộc dòng ắc quy lithiumion, trong đó cực sử dụng vật liệu LiFePO4. Ắc quy LiFePO4 có mật độ năng lượng thấp cao, thời gian hoạt động lâu và an toàn.

Lịch sử ra đời

LiFePO4 là một khoáng chất tự nhiên thuộc họ olivin (triphylite). Năm 1996nhóm nghiên cứu John B. Goodenough tại Đại học Texas sử dụng lần đầu tiên chất này làm vật liệu catốt. Do chi phí thấp, không độc hại môi trường (non-toxicity), độ sẵn có của nguyên liệu sắt trong tự nhiên, độ ổn định nhiệt độ, độ an toàn, tính chất hóa điện cùng khả năng lưu điện (170 mA · h / g, hoặc 610 C / g) nên ắc quy đã được một số thị trường như quân sự, giao thông... nhanh chóng chấp nhận.

Rào cản chủ yếu cho việc thương mại hóa sản phẩm là khả năng dẫn điện thấp. Điều này khắc phục bằng cách giảm kích thước hạt, phủ hạt LiFePO4 với chất dẫn điện như các bon. Phương pháp này đượcphát triển bởi Michel Armand và đồng nghiệp. Một phương pháp khác thực hiện bởi nhóm Yet Ming ghép LPF với các ion dương của các vật liệu nhôm, niobi, và zirconi. Ắc quy được sản xuất chủ yếu và sử dụng trong công nghiệp tại các hãngDeWalt Decker, Karma Fisker, Daimler AG, Cessna và BAE Systems.

MIT đã giới thiệu công nghệ phủ mới cho phép các ion di chuyển dễ dàng hơn trong ắc quy.  "Beltway Battery" sử dụng một công nghệ cho phép các ion lithium ra vào các điện cực với tốc độ lớn để có thể xạc đầy ắc quy trongmột phút. Họ phát hiện ra rằng bằng cách phủ hạt lithium iron phosphate trong chất pyrophosphate lithium thủy tinh, các ion bỏ qua các kênh và di chuyển nhanh hơn so với các loại ắc quy khác. Khả năng nạp và phóng điện của ắc quy phụ thuộc vào tốc độ dịch chuyển các ion này.  Công nghệ như vậy làm giảm trọng lượng và kích thước của ắc quy. Một tế bào ắc quy mẫu này có thể nạp đầy từ 10-20 giây, so với 6 phút với các tế bào ắc quy tiêu chuẩn.

  • Băng tự làm kín PIB

    Chỉ tiêu kỹ thuật

    Băng tự làm kín self amalgamating tape

     

  • Báo cáo Năng lượng: Ấn Độ, Trung Quốc dẫn đầu tăng trưởng tiêu thụ năng lượng

    Trung Quốc và Ấn Độ dự kiến ​​sẽ dẫn đầugia tăng nhu cầu năng lượng toàn cầu trong hơn hai thập kỷ tới, và trong khi năng lượng tái tạo chỉ đáp ứng một phần, nhiên liệu hóa thạch vẫn là nguồn cung cấp chủ yếu đếnnăm 2035, theo báo cáo.

    Báo cáo International Energy Outlook of 2011, phát hành hôm thứ Haicủa Cục Quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ, cập nhật dự báo cho thị trường đến năm 2035. Năng lượng tái tạodự kiến ​​sẽ là nguồn đáp ứngrất nhiều bởi các chính sách hiện tại và tương lai cho các quốc gia đang phát triển.

    Báo cáo cho biếttiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới sẽ tăng trưởng 53% từ năm 2008 và 2035, một nửa tăng trưởng sẽ đến từ Trung Quốc và Ấn Độ. Trung Quốc, gần đây đã trở thành nhà sản xuất năng lượng hàng đầu thế giới, dự kiến ​​sẽ sử dụng năng lượng nhiều hơn 68% so với Hoa Kỳ vào năm 2035.

    Trong khi năng lượng tái tạo được dự báo là nguồn năng lượngphát triển nhanh nhất trong vòng 25 năm tới, nhiên liệu hóa thạch vẫnlà nguồn cung cấp chủ yếu. Theo báo cáo, việc sử dụng năng lượng tái tạo sẽ tăng từ 10% năm 2008 lên 15% vào năm 2035.

    Dự báo quan trọng khác bao gồm:

    Từ năm 2008 đến 2035, tổng tiêu thụ năng lượng thế giới tăng trung bình 1,6% hàng năm.

    Năng lượng tái tạo là nguồn cung ứng phát triển nhanh nhất, tăng 3,0% một năm so với tăng trung bình hàng năm cho khí đốt tự nhiên (2,6%), điện hạt nhân (2,4%), và than đá (1,9%).
    Nhiên liệu hóa thạch sẽ chiếm 78% đáp ứngnăng lượng thế giới vào năm 2035.
    Carbon dioxide thải raliên quan đến năng lượng tăng từ 30,2 tỷ tấn năm 2008 đến 43,2 tỷ tấn vào năm 2035 - tăng 43%. Phần lớn sự gia tăng lượng khí thải carbon dioxide được dự báo docác quốc gia đang phát triển trên thế giới, đặc biệt ở châu Á.
    Riêng Trung Quốc chiếm 76% gia tăng ​​sử dụng than trên thế giới, Ấn Độ và phần còn lại không thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) Châu Á chiếm 19%.
    Giá dầu thế giới sẽ vẫn ở mức cao, nhưng tiêu thụ dầu sẽ tiếp tục phát triển.
    Sản xuất nhiên liệu hóa thạch (bao gồm cả nhiên liệu sinh học, cát dầu, dầu nặng thêm, than, chất lỏng, khí, chất lỏng), đạt tổng cộng 3,9 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2008, tăng lên 13,1 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2035 .
    Giao thông vận tải chiếm 27% tổng tiêu thụ năng lượng thế giới trong năm 2008, sẽ tăng 1,4% mỗi năm từ 2008 đến 2035. Vận chuyển tiêu thụ chất lỏng tổng số trên thế giới sẽ tăng từ 54% năm 2008 lên 60% vào năm 2035, chiếm 82% tổng gia tăng tiêu thụ chất lỏng trên thế giới.

  • Các bước bảo dưỡng AHU

    Việc bảo dưỡng bộ phận xử lý không khí (AHU) cực kỳ quan trọng với hệ thống điều hòa không khí HVAC. Hệ thống sưởi và điều hòa không khí tại trung tâm sau đó thổi đến các phòng qua ống gió. AHU thường gặp sự cố khi có cản trở thổi gió đi.  Cần phải kiểm tra tất cả các bộ phận khác trong hệ thống HVAC trước khi quyết định thay thế AHU. Bao gồm van điều tiết (air dampers),  bộ xử lý khí (air-side economizers), van và  giàn sưởi ấm làm lạnh, bộ lọc AHU phải được kiểm tra trước. Dưới đây là các bước bảo dưỡng AHU.

    1. Kiểm tra van điều tiết

    Van điều tiết gió phải mở, đóng và điều chỉnh đúng. Người vận hành sẽ bật tín hiệu đóng,  mở để kiểm tra hoạt động van điều tiết bằng mắt. Để điều chỉnh luồng gió cấp bên ngoài đôi khi sẽ lắp thêm cơ cấu chấp hành van điều tiết (air dampers actuators).  Thiết bị giúp van điều tiết đóng mở hiệu quả hơn.

  • Các phương pháp cơ bản bảo vệ thanh cái Electrical Bus

    Quá dòng(Overcurrent), So lệch (Differential) và Dưới áp (Undervoltage)

    Khi chúng ta xem xét sơ đồ bảo vệ hệ thống điện, cách nhanh nhất là xem bắt đầu từ sơ đồ bảo vệ thanh cái, vì đó là sơ đồ dễ nhất. Người ta thường sử dụng các rơ le bảo vệ quá dòng (Hình 1). Rơle bảo vệ quá dòng là thiết bị điện từ trường trong đó dòng điện chạy quacuộn dây xung quanh một lõi kim loại tạo ra từ trường. Khi dòng điện đủ lớn, từ trường hút nắp kim loại, làm đóng công tắc mạch.

    Hình 1 - Bảo vệ quá dòng.

    Trên sơ đồ có hai thiết bị. Một là biến dòng hướng (direction CT). Nếu dòng I1P chảy từ sơ cấp đến mốc đánh dấu trên cuộn sơ cấp, thì dòng đầu ra I1S sẽ xuất hiện trên biến dòng tại điểm đánh dấu thứ cấp.

  • CÁCH CHỌN CÔNG SUẤT TỦ TỤ BÙ TỰ ĐỘNG

    By

    CÁCH CHỌN TỤ BÙ THEO TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ (IEC)

     

     

     

    I.Tại sao cần cải thiện hệ số công suất:

     

    1.     Giảm giá thành tiền điện:

     

    - Nâng cao hệ số công suất đem lại những ưu điểm về kỹ thuật và kinh tế, nhất là giảm tiền điện.

     

    - Trong giai đoạn sủ dụng điện có giới hạn theo qui định. Việc tiêu thụ năng lượng phản kháng vượt quá 40% năng lượng tác dụng (tgφ > 0,4: đây là giá trị thoã thuận với công ty cung cấp điện) thì người sử dụng năng lượng phản kháng phải trả tiền hàng tháng theo giá hiện hành.

     

    - Do đó, tổng năng lượng phản kháng được tính tiền cho thời gian sử dụng sẽ là:

     

    kVAr ( phải trả tiền ) = KWh ( tgφ – 0,4)

     

    - Mặc dù được lợi về giảm bớt tiền điện, người sử dụng cần cân nhắc đến yếu tố phí tổn do mua sắm, lắp đặt bảo trì các tụ điện để cải thiện hệ số công suất.

  • Cách chọn công suất và vị trí lắp đặt tụ bù trong hệ thống điện

    VTTechlogy
    ...
  • Phân loại băng TỤ BÙtheo ứng dụng

    Băng TỤ BÙ loại dung lượng cố định

    Công suất phản kháng băng TỤ BÙ cố định là hằng số không phụ thuộc vào sự thay đổi về hệ số công suất và tải. Băng tụ được bật bằng tay (circuit breaker / switch) hoặc bán tự động bởi contactor điều khiển từ xa.
    Dùng nhiều băng tụ thế này để cómức bù khác nhau.
    Kiểu tụ này được lắp đặt tạithiết bị đầu cuối tải cảm ứng (chủ yếu là động cơ) tại thanh cái.
  • Cách chọn công suất và vị trí lắp đặt tụ bù trong hệ thống điện - Phần 2

    By

    Thai Hong Linh Presale Manager This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. Linh's home page:

    Chọn thiết bị đóng cắt, cầu chì và dây dẫn cho băng tụ

    A. Thiết lập mức nóng chảy (Thermal) và Từ tính (Magnetic) cho thiết bị đóng cắt

    1. Khả năng chịu tải Thiết bị đóng cắt (Circuit Breaker)

    Từ 1,3 đến 1,5 x Dòng tụ Capacitor Current (In)vớiTụ tiêu chuẩn / Tụ chịu tải lớn / tụ tích năng.

    • 1.31×In với Tụ chịu tải lớn (Heavy Duty) / Tụ tích năng (Energy Capacitors) với Kháng lọc hài 5.6% (hệ số cộng hưởng Tuning Factor 4.3)
    • 1.19×In với Tụ chịu tải lớn / Tụ tích năng với Kháng lọc hài 7% (hệ số cộng hưởng 3.8)
    • 1.12×In với tụ chịu tải lớn/ Tụ tích năng với Kháng lọc hài 14% (hệ số cộng hưởng 2.7)
  • CS Wind nhận được nhiều đơn hàng tháp điện gió tại Việt Nam

    CS Wind, công ty sản xuất cột điện gió Hàn Quốc có nhà máy tại Việt Nam ngày 1/12 công bố đã ký hợp đồng với công ty điện gió Đan Mạch Vestas Asia Pacific A/S trị giá 364 tỷ đồng cung cấp cột điện gió cho thị trường Việt Nam. Hợp đồng dự kiến sẽ hoàn thành vào 4/6/2021, cung cấp qua công ty CSW Việt Nam.

    Trước đó vào ngày 25/11 công ty cũng đã ký hợp đồng với công ty Siemens Gamesa Renewable Energy Technolgy cung cấp cột điện gió. Hợp đồng cung cấp qua công ty CSW China và dự kiến hoàn thành vào 9/4/2021.

    Với việc Chính phủ dự kiến phát triển năng lượng xanh bằng tăng công suất điện gió từ 6GW hiện tại lên quy mô 12 GW vào năm 2030 thì các dự án điện gió dự kiến sẽ triển khai nhiều tại Việt Nam.    

  • Danh mục các dự án LNG

    Danh mục dự án cảng nhập khí LNG

    Việc chuyển đổi từ phát điện bằng than sang phát điện khí hoá lỏng đặc biệt quan trọng với an ninh năng lượng của Việt Nam, đảm bảo cung cấp điện, giảm phát khí thải nhà kính.

    Danh mục dự án điện khí
     
     
     
  • DuPont Specialty Products, Nippon Paper Papylia hợp tác sản xuất giấy Nomex

    DuPont Specialty Products, công ty con thuộc DuPont de Nemours, Inc. và Nippon Paper Papylia, công ty con thuộc  Nippon Paper đã ký thoả thuận thành lập Công ty "DuPont Nippon Paper Papylia Godo Kaisha" (DPNP) sản xuất giấy cách điện Nomex tại nhà máy Yufutsu, Hokkaido, Nhật Bản. Nhà máy mới này sẽ đi vào hoạt động từ năm 2021.

    Giấy Nomex được sử dụng trong nhiều ứng dụng yêu cầu cao, quan trọng. Khả năng cách điện, chống cháy, kháng hoá chất và độ bền cơ học cao giúp Nomex là vật liệu lý tưởng cách điện. Giấy Nomex cách điện cho hệ thống lưu trữ năng lượng, máy biến áp, động cơ khởi động điện ô tô xEV, trạm xạc điện... Máy bay thương mại dùng vật liệu honeycomb sản xuất từ Nomex để bảo vệ cách nhiệt bên trong và bên ngoài.

    Việc thành lập DPNP nhằm đáp ứng do nhu cầu giấy Nomex ngày càng tăng trong lĩnh vực hàng không, ôtô và điện lực.  

  • Điện gió Ia Pếch 1, 2 dùng thiết bị truyền tải Siemens hỗ trợ IoT

    Công ty Siemens Energy công bố đã ký hợp đồng với Công ty Technology Resources Energy cung cấp thiết bị truyền tải hỗ trợ IoT cho Điện gió Ia Pếch 1, 2 tỉnh Gia Lai. Nội dung hợp đồng bao gồm 3 máy biến áp 500 KV, 2 máy biến áp 200 KVA, 6 máy cắt 200 KV, 15 chống sét van 500 KV. Tất cả thiết bị đều hỗ trợ công nghệ IoT và cảm biến cho giám sát và vận hành. Người vận hành dùng ứng dụng online giám sát theo thời gian thực trạng thái trạm biến áp.

    Điện gió Ia Pếch 1, 2 được xây dựng tại huyện Đắc Đoa, tỉnh Gia Lai với công suất 100 MW. Toàn bộ hệ thống dự kiến hoà lưới điện vào tháng 8 năm 2021. 

  • Eco Wave Power xây dựng dự án điện thuỷ triều 50MW tại Việt Nam

    Công ty năng lượng Israel Eco Wave Power đã ký biên bản ghi nhớ với công ty Việt Nam MSMART Future Technology để cùng phát triển dự án điện thuỷ triều 50 MW tại Việt Nam. Hai bên sẽ hợp tác với nhau theo từng giai đoạn. Tại giai đoạn đầu, kỹ sư Eco Wave Power sẽ nghiên cứu khả thi, địa điểm thích hợp để triển khai dự án. Nghiên cứu bao gồm lắp đặt phao đo sóng thu thập dữ liệu sóng biển theo mùa tại địa điểm. Khi hoàn thành nghiên cứu khả thi, hai bên sẽ thành lập liên danh tại Việt Nam để phát triển dự án điện thuỷ triều công suất 50 MW.

    EWPG Holding AB là công ty hàng đầu về năng lượng từ sóng biển với công nghệ thông minh, tiết kiệm chi phí vận hành được đăng ký bản quyền biến biển và sóng biển thành nguồn năng lượng xanh. EWP nhận giải thưởng "Công nghệ Tiên phong" từ Bộ Năng lượng Israel và cổ phiếu Eco Wave Power được phát hành trên  Nasdaq First North Growth Market.  

  • EDPR mua lại điện mặt trời Trung Sơn

    Công ty Năng lượng Tái tạo EDPR Tây Ban Nha đã đạt được thỏa thuận với công ty Trina Solar Trung Quốc để mua lại nhà máy điện mặt trời Trung Sơn với giá 36 triệu đô la. Nhà máy điện mặt trời Trung Sơn tại Tỉnh Khánh Hòa, có công suất 28 MWac (35 MWdc), phát điện thương mại từ tháng 12 năm 2020 và có hợp đồng mua bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong 20 năm.

    Việc thâm nhập thị trường năng lượng tái tạo Việt Nam qua việc mua lại nhà máy điện mặt trời Trung Sơn nằm trong kế hoạch kinh doanh của EDPR, trong kế hoạch tăng trưởng 20 GW đến năm 2025 của hãng.

  • Erex xây dựng nhà máy điện sinh khối tại Việt Nam

    Công ty Erex của Nhật Bản hợp tác với tập đoàn EVN để xây dựng nhà máy điện sinh khối đầu tiên tại Việt Nam. Nhà máy có công suất 20 MW và vận hành vào năm 2024 được xây dựng tại Tỉnh Hậu Giang, sử dụng nhiên liệu trấu. Dự kiến nhà máy cho sản lượng 120 triệu KW / năm.

    Đây là nhà máy đầu tiên Erex xây dựng tại nước ngoài, và cũng là mô hình để chia sẻ giảm phát thải các bon giữa hai quốc gia.

     

  • Giao thức điểm xạc mở (Open Charge Point Protocol)

    Giao thức điểm xạc mở (Open Charge Point Protocol) OCPP là giao thức ứng dụng Simple Object Access Protocol (SOAP) kết nối giữa trạm xạc xe điện và trung tâm quản lý, hoạt động như điện thoại di động kết nối với mạng di động.

    Giao thức được đưa ra ban đầu bởi tổ chức E-Laad  Hà Lan. Mục đích của nó là tạo ra một giao thức ứng dụng mở cho phép các trạm sạc xe điện và hệ thống quản lý trung tâm từ nhiều nhà cung cấp khác nhau có thể kết nối với nhau. Đến nay giao thức được sử dụng rộng rãi bởi các nhà sản xuất trạm xạc xe điện và hệ thống quản lý trung tâm trên toàn thế giới. 

    Lợi ích giao thức OCPP

    Chủ sở hữu trạm sạc sẽ ít bị ảnh hưởng nếu có nhiều nhà cung cấp thiết bị hoặc nếu nhà sản xuất trạm sạc ngừng sản xuất, chủ trạm xạc có thể chuyển sang nhà sản xuất khác dựa trên giao thức OCPP. Giao thức giúp khách hàng sử dụng trạm xạc lựa chọn linh hoạt sử dụng bất kì hệ thống trạm xạc nào sẽ giúp nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch vụ trạm xạc cạnh tranh về giá cả, dịch vụ, tính năng sản phẩm và đổi mới công nghệ - thúc đẩy nhu cầu chủ sở hữu trạm xạc. Kết quả cuối cùng là tạo ra lợi ích cho lái xe điện và mở rộng mạng lưới hạ tầng trạm xạc điện. 

    OCPP cũng tạo điều kiện dễ dàng hơn để tạo ra mạng lưới trạm xạc lớn nhưng chỉ cần một trung tâm điều khiển. OCPP làm giảm chi phí phát triển phần mềm vì khi cần bổ sung chức năng chỉ cần phát triển một lần và không mất nhiều lần thử nghiệm cho các hệ thống vận hành khác nhau. Cuối cùng, OCPP sẽ xóa bỏ sự không tương thích thiết bị, giảm thiểu các công việc khắc phục trên hệ thống

     

  • Giao thức ITU-T G8032 ERPS

    Chuyển mạch Bảo vệ Vòng Ethernet (Ethernet Ring Protection Switching  - ERPS) là giao thức được đưa ra của Liên minh Viễn thông Quốc tế ITU-T dành cho kết nối chuyển mạch với vòng dự phòng tại lớp 2, tiêu chuẩn  ITU-T G.8032. Liên kết Bảo vệ Vòng dùng cho kết nối dự phòng và nâng cao độ tin cậy của mạng. Tuy nhiên việc sử dụng liên kết bảo vệ vòng sẽ gây ra hiện tượng phát đồng loạt các gói tin và làm bảng MAC không ổn định. Việc này tác động đến hệ thống mạng, chất lượng kết nối và liên kết bị gián đoạn.

  • Hệ thống Đo đếm Từ xa

    I. Giới thiệu

    Năng lượng điện là nguồn năng lượng thiết yếu không thể thiếu với sự tồn tại của con người và việc nâng cao chất lượng cuộc sống được tiến hành thông qua việc tự động hoá phân phối và quản lý năng lượng điện. Với sự phát triển cuả công nghệ, nhu cầu tự động hoá hệ thống đo đếm ngày càng cao. Công nghệ Công tơ điện tử đã phát triển nhanh chóng thành Hệ thống Đo đếm Từ xa (Automatic Meter Reading - AMR) và Hạ tâng Đo đếm Tiên tiến ( AMI). Quy trình đọc thiết bị đo truyền thống sử dụng đồng hồ đo tương tự thu thập dữ liệu điện sử dụng và hiển thị trên màn hình nổi số hoặc màn hình số. Nhân viên điện lực đi đến địa điểm đặt công tơ và ghi lại chỉ số vào ngày cuối chu kỳ. Quá trình đọc truyền thống làm lãng phí nhân lực và dễ xảy ra sai sót. Thủ tục gửi hoá đơn cho khách hàng cũng mất công và rườm rà. Quá trình này cũng tốn nhiều thời gian. Một nhược điểm khác là cách đo này không cho biết dự đoán năng lượng tiêu thụ để khách hàng có biện pháp tiết kiệm. 

  • Hệ thống Vệ tinh Dẫn đường Toàn cầu GNSS

    Khái niệm GNSS 

    Hệ thống Vệ tinh Dẫn đường Toàn cầu GNSS là hệ thống vệ tinh không gian phát thông tin vị trí và thời gian đến thiết bị thu GNSS. Thiết bị thu sẽ dùng dữ liệu thu được này để xác định vị trí. Toạ độ (X,Y,Z) được xác định nhờ việc thu tín hiệu từ 4 vệ tinh. Bộ thu tính toán khoảng cách từ bộ thu đến 4 vệ tinh để xác định toạ độ. Thuật toán xác định như sau:

    Tốc độ truyền sóng = 299,792,458 m / giây.

    Thời gian truyền sóng từ vệ tinh đến thiết bị thu.

    Khi thiết bị thu nhận được tín hiệu thông tin "thời gian bắt đầu truyền" và "thời gian nhận" tín hiệu sẽ cho biết thời gian truyền sóng từ vệ tinh đến bộ thu.

    GNSS có phạm vi bao phủ toàn trái đất. Bao gồm hệ thống GNSS của Châu Âu Galileo, Hoa Kỳ với Hệ thống Định vị Toàn cầu (NAVSTAR Global Positioning System - GPS), Nga với GLONASS, Nhật Bản với QZSS, Trung Quốc với BeiDou và Ấn Độ với IRNSS. Trong đó GPS và GNSS được sử dụng là chủ yếu.

    Hoạt động của GNSS được đánh giá theo 4 yếu tố:

    1. Độ chính xác: kết quả đo được trên máy với vị trí, vận tốc và thời gian thực tế.

    2. Tính bảo mật: cung cấp thông tin bảo mật và khi có sự bất thường về vị trí sẽ phát cảnh báo.

    3. Tính liên tục: hệ thống hoạt động không bị gián đoạn.

    4. Tính sẵn sàng: phần trăm thời gian cho tín hiệu ổn định, chính xác và liên tục.

     Độ chính xác thiết bị được cải thiện với hệ thống tăng cường dẫn đường vệ tinh SBAS (Satellite Based Augmentation System) như European Geostationary Navigation Overlay Service (EGNOS). EGNOS cải thiện độ chính xác và liên tục của thông tin GPS qua việc chèn mã sửa lỗi và cung cấp thông tin về tính toàn vẹn tín hiệu.

    Hệ thống Tăng cường Dẫn đường Vệ tinh SBAS

    Độ chính xác của hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu GNSS được cải thiện nhờ hệ thống tăng cường dẫn đường vệ tinh SBAS như EGNOS. SBAS tăng cường độ chính xác và ổn định của thông tin GNSS bằng chèn mã sửa sai và cung cấp thông tin về độ chính xác, tính toàn vẹn, tính liên tục và tính khả dụng của tín hiệu.

    SBAS dùng thông tin GNSS đo được tại các trạm tham chiếu trên lục địa để tính sai số. Sai số này đươc truyền đến máy tính trung tâm để tính bù sai số và thông báo toàn vẹn ( integrity messages). Thông tin tính toán này sẽ được phát lên khu vực dùng vệ tinh địa tĩnh phát tăng cường, hoặc chèn lên tín hiệu vệ tinh GNSS gốc. 

    Các hệ thống SBAS đang sử dụng

    Rất nhiều quốc gia đang sử dụng các hệ thống SBAS riêng dùng cho lãnh thổ của mình như:

    Hoa Kỳ: Hệ thống tăng cường diện rộng (Wide Area Augmentation System - WAAS).

    Nhật Bản: Michibiki Satellite Augmentation System (MSAS).

    Ấn Độ: GPS-aided GEO-Augmented Navigation (GAGAN).

    Trung Quốc: BeiDou SBAS (BDSBAS).

    Hàn Quốc:  Korea Augmentation Satellite System (KASS).

    Nga: System for Differential Corrections and Monitoring (SDCM).

    Châu Phi và Ấn Độ Dương: A-SBAS.

    Úc và New Zealand: Southern Positioning Augmentation Network (SPAN).

     

     

    Bản đồ phủ sóng SBAS

    Tất cả hệ thống này đều tuân thủ tiêu chuẩn chung toàn cầu nên:

    Tương thích: không gây cản trở lẫn nhau.

    Tương tác: thiết bị thu chuẩn nhận được cùng chất lượng tín hiệu, không phụ thuộc vùng sử dụng.

    Sử dụng SBAS

    SBAS được sử dụng trong các ứng dụng đòi hỏi yêu cầu cao về độ chính xác và tính toàn vẹn tín hiệu. Đặc biệt, SBAS sử dụng trong trường hợp tính mạng con người bị đe doạ hoặc cần có đảm bảo về luật pháp và thương mại và GNSS đang được sử dụng. Ví dụ trong lĩnh vực hàng không thì Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế ICAO đánh giá GPS không an toàn cho các chuyến bay. Tuy nhiên với việc áp dụng SBAS thì các tiêu chuẩn của ICAO đã được đáp ứng.

    Ngoài lĩnh vực hàng không SBAS còn mở rộng dùng cho canh tác chính xác, quản lý xe vận hành trên đường và đo đạc bản đồ. 

     

     

     

     

  • Page 1 of 3